Chào mừng quý vị đến với website của TRẦN VĂN QUYỀN
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Học Đặng trong Việt sử ( Phần 9)
CỤ ĐẶNG LUYỆN
Cuộc đời và gia phả
A. Cụ Đặng Luyện là người mà tôi tìm tòi để viết về thân thế và sự nghiệp, cũng như viết hết tất cả con, cháu của cụ cho đến ngày nay, nhưng chắc có lẽ không đầy đủ như mong
muốn của con cháu cụ.
Theo phả hệ, cụ thủy tổ Đặng Khẩn là đời một. Cụ có nhiều con cháu. Để dẫn về sau, ta sẽ xem Tông đồ của Lão Khẩn (đời 1 thủy Tổ) đến đời 6
|
Ông KHẤU |
Từ đời một đến đời ba, người viết ghi đầy đủ như phả hệ của tiền nhân. Đời bốn, năm và sáu , người viết chỉ trích hai vị đã trực tiếp sinh hạ và tồn tại con cháu phái anh và phái em đến ngày nay.
Phái anh từ đời bảy chỉ có một người con độc nhất của cai Nghị. Phái em từ đời bảy, ông Huệ sinh đến 9 người con. Đó là :
(Đời 7)
1. Ông Tuyên ( đến đời chín thì tuyệt ).
2. Ông Trương ( người sinh ra chi I ).
3. Ông Quát ( hay Hoát ) không có con.
4. Ông Thủ ( người sinh ra chi II ).
5. Ông Ngữ ( không có con ).
6. Ông Khấu ( người sinh ra chi III ).
7. Ông Huân ( người sinh ra chi IV )
8. Bà Chuông ( Thảng )
9. Bà Mười
|
Ông HUỆ |
( phái em )
Năm mất :
Mộ tại : Gò Đình
Cúng tại : nhà thờ họ Đặng
|
Ông HUÂN |
|
Ông THỦ |
|
Ông TRƯƠNG |
Năm mất: Năm mất: Năm mất: Năm mất:
Mộ tại : Mộ tại : Mộ tại : Mộ tại :
Cúng tại : Tự đường chi I Cúng tại: Tự đường chi II Cúng tại : Nhà xã Thạch Cúng tại : Tự đường chi IV
Ông Huệ có những công sức góp với làng xã như sau : “ Làm ruộng, làm Lý trưởng, lập ấp, chia thôn, xương minh thủy lợi. Cùng 4 thôn còn ngưỡng mộ công đức tiền hiền, hưởng tuổi thượng thọ ( bản dịch cuốn gia phả họ Đặng của ông Đặng Ngọc Dương, đời 12 chi 4 ).
Hiện tại cả 4 chi trên đều vẫn tập trung ở Vĩnh Phú và Mỹ Hội thuộc xã Mỹ Tài. Chi 3 có lẽ là đông hơn cả và có số người “phiếu tán” cũng nhiều hơn cả.
B. Cụ Đặng Luyện là cháu bốn đời của cụ Đặng Khấu, chi III. Chi này tập trung tại thôn Vĩnh Phú 3 và 7. Ta sẽ có cái nhìn tổng quát về con cháu của cụ Khấu qua tông đồ thu gọn :
|
Ô. PHÚ |
· Ông Đặng Đàm phối bà Trần Thị Tâm, sinh hạ 4 trai 5 gái. Trong đó có ông Đặng Tể. Ông xây dựng nhà tự, song trong cả vùng, tu chỉnh địa bộ Minh Mạng. Có thể thấy thành tích . Hưởng thụ thượng thọ.
· Ông Đặng Tể phối :
* Bà Lưu Thị Nhị, sinh hạ 7 trai, 6 gái. Trong đó có ông Đặng Tập và ông Đặng Luyện được người đời biết đến nhiều, quen gọi thầy năm, thầy sáu.
Thầy Năm : “ Tự Văn Tạo , nhỏ học với cha, sau cùng các em du học ở kinh đô, đến trường nhất, trường nhì mấy lần thi mà không đậu. Thi thơ là nghiệp gốc, y ký cũng rõ thông, dạy nhà khuyên con làm điều tốt, biết ngoài trong. Trong làng, trong tộc đều tin cậy thân yêu, không hổ kiếp người.”
Thầy Sáu : Tự Văn Tấn , người mà tôi tìm tòi để viết nhiều chi tiết về con cháu và cuộc đời của cụ.
* Bà Trương Thị Đức : Sinh hạ 3 trai, 2 gái. Trong đó có ông Dĩnh, Loan và ông Phụng.
* Bà Võ Thị Dưng sinh hạ 1 trai tên là Đặng Phú.
Như vậy, với 3 người vợ, ông Đặng Tể có cả thảy 19 con, ông nổi tiếng là người nhiều con nhất trong họ.
Ô. Thảng ô. Đảng(Hoạt) ô. Thước ô. Củ (Khải) ô. Đề ô. Trước ô. Giá
Ô. Lang ô. Tế ô. Trảng ô. Gia(Xuyên) ô. Tế ô. Xông ô. Hạnh
Ô. Sâm ô. Nghinh ô. Miến ô. Hàn(Đến) ô. Nhị ô. Giác ô. Thành
Ô. Ngung(Liên) ô. Luyến ô. Đạt ô. Trì
ô. Mại
Đó là 7 anh em trai ( trong số 19 người con ) mà con cháu còn tồn tại về sau. Có một số con cháu các người con ấy phiêu tán như sau :
ô. Thảng ô. Phu (xã thạch) ô. Đôn ô. Tiết (tp HCM)
ô. TẬP ô. Lang ô. Cù (thầy Tư) ô. Lộc ( tp HCM)
ô. Bắc ( Chín Cận) ô. Cận, ô. Thủy ( Tây Ninh )
ô. Sâm ô. Mật (Huy- tp HCM) ô. Lưu ( tp HCM)
Hai Tố ( ô. Long) 17 Nhị Hà – Nha Trang
ô. LUYỆN ô. Ngung (Mục tố)
( Đặng Liên ) ô. Xuôi (Tám Phụng) 02 Cổ Loa – Nha Trang
( Suối Tân – Cam Lâm – Khánh Hòa )
Ô. DƯ ô. Luyến (Đội Xảo) ô. Bê ( Hà Nội )
Ô. Phi ô. Thời ( tp HCM)
Ô. PHỤNG ô. Trước ô. Lân ô. Hòa ( tp HCM)
Ô. Xông ô. Kiểm ( Cà Mau) 02 con gái ( Cà Mau)
ô. Nên ô. Như ( Gia Lai )
Ô. Giá ô. Trân ô. Trung ( Gia Lai )
( Trùm Mười )
ô. Tầm ( tp HCM)
ô. PHÚ Ô. Từ ô. Chương ( tp HCM)
( 9 Kiếm ) ô. Khanh ( tp HCM)
Ô. Mai ô. Phương ( Quảng Trị )
( mười phái )
Riêng con cháu của cụ Đặng Luyện, chúng ta cố gắng tìm hiểu để viết chi tiết hơn cho từng người sau. Tinh thần là viết đúng, trung thực khá đầy đủ.
Thế nhưng, trước hết ta tìm hiểu về cụ Đặng Luyện.
Cụ Đặng Luyện : người đời gọi cụ là thầy Sáu, là con thứ hai của người vợ cả cụ Đặng Tể. Gia phả hồi đó các cụ viết hết sức sơ sài, không có những chi tiết đáng có như năm sinh, năm mất… Tôi đoán cụ ra đời khoảng thời gian từ 1845 đến 1855 vì lẽ cụ thọ 79 tuổi và sau cụ mất hơn 10 năm thì bốc hài cốt chuyển về sau nhà thủ siêu sau năm 1940. Như thế cụ Luyện đã sống hết triều Tự Đức ( 1848 – 1883 ) và có lẽ còn sống đến nhiều đời vua Nguyễn tiếp theo.
Triều Tự Đức là thời kỳ đất nước trong bối cảnh gặp nhiều thử thách sống còn. Nước nghèo dân khổ, lòng người ly tán, bè phái hoang mang, triều đình thì ngơ ngác không có hướng đi, quyền hành thực sự nằm trong tay khâm sứ Pháp. Cụ Luyện phải sống với triều đại mà lòng dân kêu khóc.
Từ ngày Tự Đức lên ngôi
Cơm chẳng đầy nồi, trẻ khóc như ri.
Bao giờ Tự Đức chết đi,
Thiên hạ thái bình, lại dễ làm ăn.
( Cụ đã sống, đi học và làm việc trong thời kỳ bắt đầu Pháp thuộc, dưới chính quyền bảo hộ của triều đình Huế )
Thiếu thời, trong chế độ phong kiến, một phần vì cụ sinh ra trong một gia đình khá giả, là con trai con bà vợ cả. Thời đó, dòng đích bao giờ cũng ưu tiên trong các cuộc lựa chọn nên được ra tận kinh đô Huế để học. Nhờ tư chất thông minh, thiên tư văn học giỏi lên … Ở gia đình lại siêng năng, cần cù, chăm chỉ, mở mang dạy dỗ con em. Từ đó văn học trong thôn, tổng ngày càng mở mang bởi có chỗ quan cảm tài bồi. Cụ lại chỉnh đốn nơi thờ tự thần linh, xây dựng từ đường gia tộc ( xây dựng nhà thờ họ , lập lại gia phả tộc họ rõ ràng hơn, lưu lại ngày nay). Cách thức ấy nhiều nơi đến tham khảo, thay đổi, thêm bớt quy định rõ ràng hơn. Ai cũng ca tụng là một nhà cơ trứ, có máy móc quy mô.
Cụ tuy học nhiều, từ trường này đến trường khác nhưng khi tham dự các khoa thi (tú tài, cử nhân) lại không đậu. Ngược lại, nếu dự thi hộ cho người khác thì đậu và xếp hạng giỏi.
Lần giở phổ hệ kể tận phái Anh, ta cũng chỉ thấy thưa thớt vài người có làm đến hương lý, lý trưởng, tề gia tốt hay giữ được nề nếp ông bà. Sáu người anh em của cụ Đặng Luyện (cả 3 dòng) là những người ăn ở có đức, gìn giữ nếp nhà được bà con mến mộ. Riêng cụ Đặng Dự có làm hương lý trưởng, còn hai anh là thầy Năm và thầy Sáu chỉ mở lớp dạy học, ngày ngày làm thơ văn, liễng đối rồi cũng chỉ dừng lại thôi. Cụ Đặng Phú (em út) không thấy sách vở nói đến, nhưng chắc chắn lối sống không ngoài những chữ tốt đẹp là cần cù, đôn hậu, chăm lo gia đình ? Tôi nghĩ vậy là vì dưới mái nhà “như triều đình” và vì thế tiếng đồn khắp nơi làm mẫu mực cho cả thôn của ông Đặng Tể mà “ mọi người coi như ông Vua” thì con cái của ông dù có muốn làm khác đi cũng không được.
Thuở trước, trong tộc có năm cụ già là rực rỡ gia đình, nay có bảy ông già sống trong một nhà, thời các bậc kỳ lão tốt đẹp gặp nhau trong vườn trúc không thể đẹp riêng một mình.
Cuối cùng ta hãy đọc lại gia phả về cụ Đặng Tể , cha đẻ của các ông : Tâp - Luyện – Dự - Dĩnh – Loan – Phụng – Phú. Tự là Văn Hiền làm lý trưởng, trùm chức , thân hào trong làng, biết sách, rõ lý, sang trọng, trang nghiêm. Dạy con đọc sách , trị gia có phương pháp, trong họ coi như ông vua, trong nhà nghiêm túc như triều đình. Vì thế tiếng đồn khắp nơi, làm mẫu mực cả thôn. Đến nay, mọi người đều ngưỡng vọng cái phong thái ấy “Hưởng tuổi thượng thọ”
Trong 3 năm 1885 – 1888, dưới sự chỉ huy thống nhất của vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết, phong trào kháng chiến đã nổ ra khắp nơi, từ Thanh Hóa vào Bình Định, Mai Xuân Thưởng, Bùi Điền, Nguyễn Đức Nhuận, Đào Doãn Địch, Nguyễn Duy Cung là các gương sáng của Bình Định thời bấy giờ. Đinh Công Tráng đã từng là chánh tổng (ở tràng xá Hà Nam) mà năm 1882 ông đã chiến đấu trong hàng ngũ Hoàng Tá Viêm khi Pháp kéo ra Bắc kỳ lần thứ hai. Hay Võ Trứ cũng là một cựu lý trưởng, vậy mà năm 1898, ông đã cùng Trần Cao Vân vận động nhân dân hai tỉnh Bình Định, Phú Yên đứng lên chống Pháp đến nỗi bị Pháp xử tử. Đó là những tấm gương Bình định đã không nhiều thì ít tác động tích cực đến chỗ sâu trong tâm hồn cụ Chánh Dĩnh. Ngoài ra, trong giai đoạn cuối thế kỷ, tức là khoảng 1884 đến 1900, còn có biết bao cuộc khởi nghĩa chống Pháp theo chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi năm 1885 như Cao Thắng, Phan Đình Phùng, Kỳ Đồng, Đề Thám… Nhưng, làm sao được khi chưa có một giai cấp tiên tiến dẫn đường. Tất cả đã thất bại !
Làm sao cụ có thể gặp được những tấm gương ấy, và chắc chắn cụ cũng không nghĩ đến có một giai cấp tiến bộ nào dìu dắt. Cụ đã đồng ý để người dân bầu vào làng, tổng mà cụ xem đó là một cách giúp dân thực sự.
Như ta đã biết, người Pháp đã thực sự đem quân đánh chiếm Việt Nam năm 1858. Việc quản lý làng xã tạm thời người Pháp chưa muốn can thiệp, nghĩa là cũng để tự trị như trước. Cho nên việc bầu cử lý dịch (tức bầu người ra gánh vác việc dân, việc làng, trung gian giữa dân làng với quan huyện, phủ và tỉnh) trong thời ấy vẫn còn như một sinh hoạt cộng đồng. Mỗi khi làng xã cần bầu một chân lý trưởng hay phó lý mới, sau khi được tỉnh huyện đồng ý, dân làng họp tại đình, bầu lấy một người có “gia tư vật lực” và phải biết ít chữ ra làm việc.
Dân làng hội họp tại đình, kén chọn lấy một người có gia tư vật lực và là một người biết ít chữ bầu cử ra làm việc. Tiên, thứ chỉ, kỳ mục và các bô lão đều phải ký kết vào đơn bầu, rồi mấy người kỳ mục dẫn đường mới được bầu ấy đem trình quan phủ, huyện sở tại, cấp bằng triện cho Lý trưởng hoặc phê chữ vào đơn dân bầu mà cấp cho phó Lý, Hương trưởng làm bằng, từ đó người được bầu mới ra ứng hành công vụ.
Theo Phan Kế Bính, khi có mấy người cùng tranh nhau một chân lý dịch, việc tranh cử trở thành gay go, phải vận động hay xin ý kiến riêng của các bô lão có uy tín. Có khi, người ta còn đi mua chuộc cử tri. “Có những ứng viên làm tiệc tùng mời các quan viên, các bô lão. Cũng có những ứng viên mua quà biếu cử tri hay dùng tiền mua chuộc lá phiếu”. Trước thời Pháp thuộc, nạn cường hào ác bá ít hoành hành hơn vì trong bầu cử, dân làng thường lựa chọn theo tài và đức. Trong các ứng viên, có người thực sự công tâm, muốn lo việc dân, việc làng; có người muốn ăn trên ngồi trước, nhắm vào lợi lộc khi đắc cử. Chính hạng người sau này dễ trở thành cường hào ác bá.
Tuy nhiên, người Pháp không để dân được thoải mái như vậy lâu; họ cố để bọn tay sai lọt vào hàng ngũ cai trị ở làng xã để áp bức, đè nén để dân chúng nổi dậy chống Pháp. Và dần dần họ thay bầu cử bằng việc chỉ định đích danh.
Sau khi đắc cử, người này phải được chánh phó Tổng hiệp cử rồi mới lên tới phủ, huyện,tỉnh. Sau đó, người đắc cử về làng chiêu đãi, gọi là khao vọng, trước là nộp lệ làng và cúng thần linh, sau là mời làng xã nhất là bô lão, chức sắc.
“ Trước khi nhận chức, các lý trưởng điếu tráp chỉnh tề, xuất bọn tùng phu, kẻ tay thước, người sào gậy, rúc ốc, thổi tù và, và đi diễn từ đầu làng đến cuối làng một lượt, gọi là xuất tuần, nghĩa là trước mời dân, sau cho tuần phu ăn uống một bữa, để tuần phu biết mình là người làm việc, cho từ sau dễ sai khiến bọn ấy, và xuất tuần đi như thế, để cho dân làng ai cũng biết mình là người đã ra cáng đáng công việc cho dân làng” (Phan Kế Bính)
Việc bầu cử Chánh tổng, Phó tổng không khác bao nhiêu. Khi bầu cử xong phải có biên bản và được quan trên duyệt. Còn trong khi dân bầu thì có quan huyện hoặc quan phủ ngồi chủ tọa. Duyệt biên bản thì do quan tỉnh.
Các chánh, phó Tổng trúng cử thì cũng có tiệc mừng. Mục đích chính là trình làng giấy tờ, bằng sắc của mình cho dân biết là mình đã trúng cử, bắt đầu thực thi công vụ. Bữa tiệc ấy tuy là bữa tiệc hàng Tổng nhưng có mời dân và có lễ tới đình để cúng thần linh. Dân làng đến dự tiệc, công nhận quyền chánh Tổng của đương sự.
Tuy vậy, người Pháp như đã nói, không để lâu tình trạng bầu cử như thế này mà luôn thay đổi, dần dần đi tới sự chỉ định, để nắm thật chắc quyền cai trị làng xã. Người Pháp thấy rằng họ cần phải thay đổi các cơ cấu làng xã “để tìm cách đặt công việc làng mạc dưới quyền kiểm soát của họ và làm nhẹ bớt quyền lực của các thân hào hương chức đối với dân làng. Ta có thể hiểu dễ dàng tại sao người Pháp đã thay đổi như vậy, nếu ta biết rằng những cuộc khởi nghĩa thường phát khởi từ các làng mạc và tinh thần quốc gia được bảo tồn tại các nơi đó” (Nguyễn Xuân Đào- “Tổ chức hành chánh tại cấp xã ở Việt Nam”).
Tổng là một khu vực nông thôn , rộng bằng 5-10 xã hợp lại, có một chánh Tổng( còn gọi là cai tổng) và một phó tổng do dân cử để coi việc đê điều, thuế khóa và mọi việc trị an trong Tổng. Cho đến cuối đời vua Tự Đức (1848-1883), Tổng trở xuống làng xã thuộc quyền tự trị của dân, quan triều đình chỉ bổ dụng đến phủ.
Hồi xa xưa, xã chịu chi phối của triều đình. Đến đời Lê, đã dần dần tự trị.Công điền, công thổ đã chuyển dần cho làng xã lo luật lệ, phong tục của làng nào biết làng nấy, triều đình không can thiệp. Câu “Phép vua thua lệ làng” đã trở thành một tục ngữ cũng xuất phát từ ý nghĩa này. Như đã đề cập từ đầu, xã hội Việt Nam vào cuối đời Tự Đức đã bắt đầu loạn lạc. Vua vừa cho đánh Tây để giữ ngai vàng ở chỗ này lại cầm chân Tướng lãnh không cho đánh ở chỗ khác. Và rốt cuộc vua cũng phải ký hòa ước đầu hàng. Các quan triều ngơ ngác chia ra bè phái, giặc giã khắp nơi. Ở nông thôn, nạn cường hào ác bá tha hồ hoành hành, dân đói khát lầm than. Nhiều nông dân thu hoạch thóc lúa vẫn không biết mình có được hưởng hay không? Thực dân Pháp khôn khéo, xảo quyệt dựng lên một chính quyền gọi là tự trị, nhưng thực chất quyền hành thực sự lại trong tay họ. Những người cũ còn sót lại cũng dần dần bị loại trừ. Những người này hoặc ngoan ngoãn với triều mới, hoặc có còn chút tình dân tộc thì chỉ biết ngậm đắng nuốt cay dưới ách cường quyền. TS Nguyễn Q Thắng viết “Một số nhà nho trong thời kì này có tinh thần yêu nước nhưng bất lực trước thời cuộc, họ tìm sự lắng dịu ở tâm hồn. Nghĩa là họ rất giàu tình cảm nhưng nghèo hành động”. Lớp người này tuy không phải đại diện chân chính cho quần chúng Việt Nam, nhưng không phải đếm trên đầu ngón tay.
Nói về cụ Đặng Luyện, tôi lại liên tưởng đến cụ Huỳnh Thúc Kháng. Tất nhiên cụ Luyện không thể so sánh cới cụ Huỳnh. Cụ Huỳnh Thúc Kháng quê ở Tam Kỳ, Quảng Nam, có lẽ sinh sau cụ Luyện một thời gian ngắn thôi. Cụ Huỳnh sinh tháng 10 năm 1876. Cụ Huỳnh cũng ra đời và lớn lên trong một gia đình nhiều đời làm nông thuần túy. Cụ rất thông minh và ham đọc sách, “Đọc sách nào thì nhớ quyển nấy”. Năm 8 tuổi thì cụ bắt đầu đi học. Năm 15 tuổi biết làm văn, 16 tuổi đi thi Hương, năm 29 tuổi đỗ tiến sĩ. Năm 31 tuổi học quốc ngữ. Năm 33 tuổi vì quốc sự bị đày ra Côn Đảo. Năm 46 tuổi được tha về. Năm 51 tuổi bị cử làm đại biểu nhân dân Trung Kỳ. Cụ cũng không phải con nhà khoa bảng. Và cụ cũng không lấy con đường hoạn lộ (là con đường quan lại) làm cứu cánh. Khoa cử và nối dõi là hai nhiệm vụ mà cụ phải hoàn thành cho gia đình. Và sự thành công của nhà nho Huỳnh Thúc Kháng phần lớn là tự nơi con tim, khối óc của chính mình. Cụ Huỳnh Thúc Kháng là người học giỏi, nổi tiếng là một trong các nhà lãnh đạo phong trào Duy Tân, phế hán học. Năm 1946, cụ được chủ tịch Hồ Chí Minh mời vào chính phủ liên hiệp kháng chiến trong chức vụ Bộ trưởng Nội vụ rồi quyền chủ tịch nước và chủ tịch Liên Việt.
Năm 1947, cụ bị bệnh và mất trên đường công tác tại Quảng Ngãi, thọ 71 tuổi. Trước khi nhắm mắt, cụ còn đủ sáng suốt viết bức thư cho Hồ Chủ Tịch “Tôi bị bệnh chắc không qua khỏi. Bốn mươi năm ôm ấp độc lập và dân chủ, nay nước đã độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là tôi chết hả. Chỉ tiếc không gặp được cụ lần cuối cùng, chúc cụ sống lâu để dìu dắt quốc dân lên đường vinh quang, hạnh phúc”
Chào vĩnh quyết
Quảng Ngãi, ngày 14 tháng 4 năm 1947
Cụ Đặng Luyện quả thật không sao so sánh được với cụ Huỳnh Thúc Kháng. Độc lập và dân chủ có lẽ điều cụ Đặng Luyện vẫn hằng mong ước. Cái thiệt cho cụ là cụ đã ở trong một địa phương không bùng lên ngọn lửa cách mạng. Cụ không giao tiếp được với sách vở tiến bộ. Sau này ông Phan Châu Trinh có đi vận động tận miền sâu trong các tỉnh phía nam, nhưng lúc ấy có lẽ cụ Đặng Luyện đã sang bên kia thế giới.
Tóm lại, cụ Đặng Luyện thiên tư văn học giỏi, mở lớp dạy học để nâng cao dân trí, bởi có chỗ quan cảm tài bồi chỉnh đốn và xây dựng từ đường gia tộc, mọi người dân trong làng xã ai cũng tôn sùng là một nhà cơ trứ có máy móc quy mô.
Nghiên cứu các con cháu của cụ Đặng Tể là cha đẻ cụ Đặng Luyện cũng chưa có ai giàu có bằng sức mình, dù ở cương vị nào. Ai cũng chú ý ăn ở hợp đạo lý, xa lánh các cám dỗ đời thường. Ngược về trước cũng vậy. Các cụ Đặng Khấu, Đặng Đàm (là ông nội và cha cụ Đặng Tể) cũng là những người yêu quý nếp nhà, chăm lo gia đình, không làm những việc áp bức, giữ tiếng hơn là giữ miếng. Đó cũng là phong cách sống của họ ta.
Có một câu cửa miệng : “Bà Thi nhiều lúa, Bếp Búa nhiều tiền, Hương Hiền nhiều con”. Hương Hiền chính là cụ Tể. Cụ có đến 19 người con. Với số con “ớn lạnh” ấy, hàng ngày cụ lo miếng ăn cũng muốn hụt hơi, nói chi đến cái chữ.
Cụ Đặng Luyện có hai người vợ :
· Bà Chánh thất : tên Huỳnh Thị Tửu. người thôn Tám (Vĩnh Phú), xã Mỹ Tài. Con ông ……………….. . Bà là cô ruột của ông Sáu Hạn. Bà mất lúc còn trẻ, không ai nhớ bà sinh và mất năm nào.
Cụ bà sinh được 05 người con, 2 trai và 3 gái. Mộ bà táng tại Gò Thị, Vĩnh Phú. Giỗ bà ngày 10 tháng 5 âm lịch.
· Bà Kế thất : Tên Huỳnh Thị Cấu, em ruột bà Huỳnh Thị Tửu. Lúc cụ bà Huỳnh Thị Tửu mất, để lại 4 con nhỏ, không người quán xuyến. Gia đình giàu có, để cụ ông lấy vợ người ngoài về sợ hành hạ con cháu và tẩu tán tài sản nên hai gia đình nhất trí gả người em ruột là bà Huỳnh Thị Cấu về nuôi dạy cháu và quản lý gia tài. Bà sinh hạ được 6 người con, 2 trai và 4 gái. Bà mất ngày 14 tháng chạp năm 1945 , hưởng đại thọ 80 tuổi. Mộ bà tang tại gò đất lúa, sau nhà thủ Siêu.
·
|
Đời 10 |
Đời 11 |
|
|
Đặng Luyện Vợ 1 : Huỳnh Thị Tửu Vợ 2 : Huỳnh Thị Cấu |
Đặng Thị Tùng |
Con bà 1. Mất ngày 12 /3 âm lịch. Mộ tại gò Bông. Hiện cháu ngoại đang thờ tự, cúng giỗ. |
|
Đặng Thị Đào ( Lãng ) |
Con bà 1 :…………. Mất ngày….. Thọ 80 tuổi. Mộ tại Vĩnh Phú, Vườn Diềm). Nơi sinh sống đến cuối đời : Vĩnh Phú |
|
|
Đặng Đãng (Hượt) |
Con bà 1. Sinh năm : Lý trưởng Mất ngày 10 tháng 3 âm lịch. Thọ 65 tuổi. Mộ tại vườn Diềm- Vĩnh Phú Nơi sinh sống đến cuối đời : Vĩnh Phú |
|
|
Đặng Tế |
Con bà 1 Mất ngày 9 -01 âm lịch. Mất còn trẻ Mộ tại : vườn quơn-Vĩnh Phú (trong vườn nhà trường) |
|
|
Đặng Thị Mạng |
Con bà 2. Mất còn trẻ, ngày 15 tháng 01 âm lịch. Giỗ chung ngày tảo mộ 10 tháng 3 âm lịch. Mộ tại Gò bông – Vĩnh Phú |
|
|
Đặng Thị Tại |
Con bà 2. Mất ngày 17 tháng 6 âm lịch, còn trẻ. Mộ tại Đại Sơn – Mỹ Hiệp |
|
|
Đặng Văn Nghinh |
Con bà 2. Mất ngày 20 tháng chạp âm lịch, còn trẻ Mộ tại Vườn Diềm- Vĩnh Phú |
|
|
Đặng Văn Ngung (Đặng Liên) |
Con bà 2. Sinh năm 1903 (Giáp thin). Mất ngày 04 tháng 10 (năm 1980) âm lịch. Thọ 77 tuổi. Mộ tại vườn nhà Vĩnh Phú- Suối Tân – Cam Lâm. Giỗ ngày 02 tháng 10 âm lịch hằng năm tại nhà Vĩnh Phú Cam Lâm. |
|
|
Đặng Thị Phúc |
Con bà 2. Sinh năm 1908, mất năm 1988. Mộ tại Rừng củ - Mỹ Quang - Phù Mỹ. Thọ 62 tuổi. |
|
|
Đặng Thị Úc |
Con bà 2. Sinh năm 1908. Mất ngỳ 02 tháng 02 âm lịch năm 2002. Thọ 94 tuổi. Mộ tại Vạn Giã – Vạn Ninh – Khánh Hòa. |
|
Ta lần lượt nói rõ hơn từng người thuộc đời 11.
11.1 Đặng Thị Tùng
Lấy chồng tên Lê Dinh, quê Thái Phú- Cát Tài- Phù Cát. Sinh hạ được 3 gái, cùng sống quê cha. Mất sớm. Mộ tại Gò Bông- Vĩnh Phú.Một cháu ngoại đang ở, thờ tự và cúng giỗ tại nhà Gò Bông – Vĩnh Phú.
11.2 Đặng Thị Đào (Lãng)
Lấy chồng tên Ngô Táng. Về sống quê cha . Làm ăn giàu có, con đông, đều được học hành, cuộc sống đầy đủ. Chồng bà làm Lý trưởng rồi được cửu phẩm. Bà con thường gọi Xã Hiên hay Cửu Hiên. Bà mất khoảng sau năm 1950. Mộ tại Vườn Diềm- Vĩnh Phú. Con cháu thờ cúng bà tại Nha Trang.
11.3 Đặng Hượt (Đãng)
Là con thứ năm của cụ Đặng Luyện. Thế hệ 12 còn gọi là Bác Xã hay Xã Ái. Ông sinh năm 1885 tại Vĩnh Phú. Ông là cháu đích tôn của cụ Đặng Luyện nên được học hành đầy đủ. Sau này tập tung làm ruộng đất để phát triển kinh tế. Ông học giỏi, có uy tín trong dân làng. Ông lấy vợ tên Lương Thị Còn, người Mỹ Hội- Mỹ Tài. Sinh được 8 người con : 4 trai, 4 gái. Đến nay chỉ còn một gái thứ tám, sinh sống tại xã Hòa Đông , thành phố Buôn Mê Thuột.
11.4 Đặng Tế
Con thứ sáu và cũng là lần sanh cuối cùng của bà chánh thất (chị). Sau con cháu thường gọi là bác Sáu Kinh. Ông sinh năm 1888, lấy vợ là bà Mai thị Gỡ, nhà gần chợ Đỗ cùng thôn.Ông được 03 người con, 02 gái 01 trai. Vì sức khỏe yếu nên ông mất sớm, tuổi trung niên. Bà Mai Thị Gỡ thủ tiết thờ chồng nuôi con. Sống thượng thọ 80 tuổi. Mất ngày …… tháng ….. âm lịch năm …
11.5 Đặng Thị Mạng
Còn gọi là cô Bảy, con bà 2. Mất còn trẻ, chưa lấy chồng. Mất ngày 15 tháng 01 âm lịch. Mộ tại Gò Bông – Vĩnh Phú
11.6 Đặng Thị Tại, con bà 2.
Bà sinh vào khoảng 1897, còn gọi là cô Tám Truyện. Bà lấy chồng giàu có, dòng dõi Ba Tiễn thôn Đại Sơn, xã Mỹ Hiệp. Được hai người con, một trai, một gái.Vợ chồng đều mất sớm. Mấy năm sau, anh con trai cũng mất, chỉ còn lại chị hai Truyện ( Võ thị truyện). Chị hai Truyện hiện nay còn hai con, một trai và một gái. Trai tên Lưu sống tha phương. Gái tên An, lập gia đình sống tại xã Mỹ Hòa huyện Phù Mỹ.
11.7 Đặng Văn Nghinh hay còn gọi là bác Chín Cửu
Con bà 2. Ông sinh năm khoảng 1900. Lấy vợ người thôn Trung Thành xã Mỹ Quang. Sinh được một cháu gái, ông bệnh nặng và mất. Bà đang mang thai và sau sinh được một cháu gái nữa. Giao hai cháu cho nội nuôi và bà tái giá. Bên nội nuôi hai chị khôn lớn, gả chị Cửu lấy chồng ở An Lương- Mỹ Chánh. Mang thai, khi sinh đã mất luôn. Chị Kẻo (Trâm), sau này lấy chồng ở thôn Trinh Vân – xã Mỹ Trinh. Hiện chị còn sống chung với con gái ở Mỹ Trinh.
11.8 Đặng Văn Ngung (Đặng Liên)
Còn gọi ông Mười Tố. Sinh năm 1903 (Giáp Thìn), lấy vợ là bà Châu Thị Thả (Huyến), sinh năm Quý mão 1902. Con ông xã Miêu thôn Đại Thạnh, xã Mỹ Hiệp (Quán Chùa). Ông là con thứ mười và cũng là con trai út của cụ Đặng Luyện. Lúc sinh thời, ông bà có nhà cách nhà thờ cụ Đặng Luyện chừng 200m, cạnh đường Liên xá. Bây giờ vạt vườn đứa chắc ngoại của ông Đặng Hượt xây nhà ở. Vì chiến tranh chống Mỹ, giặc đã trút bom tàn phá. Hiện nay con cháu đều lập nghiệp sinh sống xứ người nên không có con cháu về ở. Ông bà sinh được bảy người con, ba trai bốn gái. Tính người hiền lành, chân thật và khiêm tốn. Gia đình ông là gia đình cách mạng. Ông và ba con đều là đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam. Ông chuyên làm ruộng đất để nuôi sống gia đình.Ông mất ngày 4 tháng 10 âm lịch năm Canh thân 1980 tại Suối Tân – Cam Lâm – Khánh Hòa. Mộ tại vườn nhà. Giỗ ngày 02 tháng 10 tại từ đường nhà Phước Thiện.
Bà Châu Thị Thá (Huyến) mất ngày 27 tháng 11 năm tân sửu 1961. Mộ tại gò đất lúa sau nhà Thủ Siêu Vĩnh Phú – Mỹ Tài – Phù Mỹ - Bình Định.
11.9 Đặng Thị Phúc
Là con gái song sinh với bà Đặng Thị Úc. Hai bà sinh năm Canh Tuất 1910 tại Vĩnh Phú – Mỹ Tài. Bà lấy chồng tên Võ Tắc hay Võ Khương, quê Kiên Võng – Cát Hanh – Phù Cát. Sau chuyển về xây nhà ở đến cuối đời tại thôn Tú Dương xã Mỹ Hiệp và chết ở đó. Ông bà không có con. Nghe đâu hình như có hư thai ba lần. Ông bà chuyên làm ruộng và chăn nuôi. Hai mộ nằm cạnh nhau tại thôn Tú Dương, đường rẽ xuống nhà thợ lưới qua cầu rẽ trái là đến, cách Quốc lộ 1 độ 400m.
11.10 Đặng Thị Úc.
Em cùng sinh đôi với bà Đặng Thị Phúc. Bà tuổi Canh Tuất 1910 tại Vĩnh Phú – Mỹ Tài. Bà lấy chồng tên Đỗ Ngọc Châu quê An Lương – Mỹ Chánh, còn gọi ông bà Bộ Ánh. Chuyên làm ruộng. Bà Ánh sống nghề buôn bán vải, bán tại nhà và tại các chợ phiên như chợ Đỗ, chợ An Lương… Nhờ buôn bán nên gia đình khá giả. Chồng tham gia việc làng giữ chức hương bộ. Ông bà sinh được sáu người con, bốn trai hai gái. Ông mất khoảng những năm 1980, mộ tại An Lương – Mỹ Chánh, hưởng thọ gần 70 tuổi. Bà sống với con trai út tại Vạn Giã – Vạn Ninh – Khánh Hòa và mất ngày 02 tháng 02 năm 2003, hưởng thọ 94 tuổi. Mộ tại nghĩa trang Vạn Ninh cạnh Quốc lộ 1.
Các con của bà Đặng Thị Úc
1. Đỗ Ngọc Du còn gọi là Hai Ánh, sinh năm Kỷ Tỵ 1929. Vợ là Nguyễn Thị A , sinh tám con.
2. Đỗ Khoa Thư thường gọi là Ba Thư. Sinh năm Giáp Tuất 1934. Vợ là Nguyễn Thị Tuyết , sinh tám con.
3. Đỗ Thị Sen. Lúc nhỏ bị trúng gió nên méo miệng. Sinh năm Đinh sửu 1937. Chồng tên Phong, là giáo viên, quê Chánh Thuận – Mỹ Chánh, chồng mất khoảng năm 2000.
4. Đỗ Thị Đào, sinh năm Kỷ mão 1939, chồng người Bắc, dã chết. Sinh bốn người con.
Hiện đang sinh sống tại Phù Mỹ.
5. Đỗ Ngọc Chương, sinh năm Nhâm Ngọ 1942, có vợ ở Mỹ Chánh, sinh được năm con.
&nbs
Van Quyen @ 09:19 03/02/2012
Số lượt xem: 216
- Họ Đặng trong Việt sử ( Phần 8) (03/02/12)
- Họ Đặng trong Việt sử ( Phần 7) (03/02/12)
- Họ Đặng trong Việt sử (Phần 6) (03/02/12)
- Họ Đặng trong việt sử ( Phần 5) (03/02/12)
- Họ Đặng trong Việt sử ( phần 4) (03/02/12)
Các ý kiến mới nhất